Liệt dây VII ngoại biên

Liệt thần kinh VII ngoại biên

Theo Y học hiện đại |YHHĐ|:

  • Liệt mặt là hiện tượng mất hoặc giảm vận động nửa mặt của những cơ bám da ở mặt do dây VII chi phối .
  • Liệt mặt ngoại biên là tổn thương được tính từ nhân dây VII trong cầu não, liệt mặt trung ương là những tổn thương được tính từ trước nhân trở lên. Những trường hợp liệt dây VII’ do nhân bọt trên không thuộc trường hợp này.

Theo quan niệm Y học cổ truyền |YHCT|: gọi là khẩu nhãn oa Tà , Khẩu tịch, Diên nan (Than), Phong điếu tuyến, Diện Thần Kinh Ma Túy.

Theo Y học hiện đại |YHHĐ|:

  • Mặt mất cân xứng: mặt bị kéo lệch sang bên lành, bên liệt trông như mặt nạ, các nếp tự nhiên như nếp nhăn trán, rãnh mũi má bị mờ hoặc mất, miệng và nhân trung méo về bên lành (các cơ mặt không thể cử động theo ý muốn, nên vui buồn không lộ, khó diễn tả tình cảm bằng nét mặt nên có hình ảnh của nét mặt vô vảm Sự mất cân xứng càng rõ khi bệnh nhân làm một số động tác chủ động như khi cười, khi nhe răng, phồng má, thổi lửa, huýt sáo miệng méo lệch sang bên lành;
  • Mắt nhắm không kín ở bên liệt, khi nhắm đồng tử di chuyển lên trên và ra ngoài để lộ một phần lòng trắng gọi là dấu hiệu Charle Bell dương tính;
  • Nói khó
  • Lưỡi lệch về bên liệt (do cơ lưỡi bên lành đẩy sang bên liệt);
    Uống nước, nước chảy ra ngoài phía bên bệnh, ăn cơm thức ăn thường kẹt giữa răng và má ở bên bệnh
  • Ngoài ra, còn một số triệu chứng khác ít gặp hơn như
  • Cảm giác tê một bên mặt
  • Mất vị giác ở 2/3 trước lưỡi
  • Khô mắt do không tiết nước mắt hoặc tăng tiết nước mắt làm nước mắt chảy giàn giụa, nhất là trong hoặc ngay sau bữa ăn.
  • Trường hợp liệt hoàn toàn: Có phần lớn các triệu chứng như trên;
  • Trường hợp liệt nhẹ: Thường khó thấy sự không cân đối của mặt, cần phải thăm khám tỉ mỉ, kiên trì mới phát hiện được. Yêu cầu người bịnh nhắm thật chặt 2 mắt, ta thấy 2 lông mi bên liệt có vẻ dài hơn, do mắt bên liệt không co được chặt.

Theo Y học cổ truyền |YHCT|:

  • Thể phong hàn: Sau khi gặp mưa hoặc gió lạnh hoặc sáng sớm thức dậy, tự nhiên mắt không nhắm được, miệng méo cùng bên với mắt, nước uống vào dễ bị chảy ra ngoài, không huýt sáo được, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch Phù Khẩn;
  • Thể phong nhiệt: Sốt sợ gió, sợ nóng, mắt không nhắm được, miệng méo cùng bên, nước uống vào dễ bị chảy ra, không huýt sáo được, rêu lưỡi trắng dầy, mạch Phù Sác. Thường do nhiễm khuẩn;
  • Thể huyết ứ: Mắt không nhắm được, miệng méo, đau nhức ở mặt. Thường do di chứng sau chấn thương: té ngã, sau khi mổ vùng chũm, hàm…

1. Nguyên nhân

Theo Y học hiện đại |YHHĐ|: Dựa theo vị trí từ nhân ra đến chỗ tận cùng của dây thần kinh VII, có thể do:

  • Các nguyên nhân ở tai: Viêm tai giữa cấp hoặc mạn, viêm xương đá, viêm tai xương chũm ,Viêm tuyến mang tai;
  • Chấn thương vùng xương đá: ở ngoài lớn do vỡ xương đá, ở trẻ sơ sinh do can thiệp sản khoa (do kẹp Foxcep, khung chậu người mẹ hẹp…).;
  • Nhiễm virut (virus herpes simplex tuýp I và virus herpes zoster)
  • Viêm màng não dầy dính, làm tổn thương thần kinh từ rãnh hành tủy- cầu não đến ống tai trong;
  • Do giang mai, viêm nhiễm dây thần kinh;
  • Bệnh bại liệt trẻ em (Polye-liệt dây VII hai bên – thể thân não của bệnh bại liệt, liệt hai bên nửa mặt và thường gặp ở trẻ em);
  • Uốn ván mặt của Rase… các thể này hiện nay rất ít gặp;
  • Zona hạch gối (zona nhân gối): Zona là bệnh cấp tính do virus hướng thần kinh phạm vào hạch gối gây liệt mặt đột ngột;
  • Bệnh tự miễn: lupus ban đỏ…
  • Nguyên nhân do lạnh chiếm 80%. Liệt dây VII ngoại biên “do lạnh” thường gặp với bệnh cảnh đột ngột, sau khi tiếp xúc với trời lạnh, ngáp và bị liệt có thể đó là do nhiễm khuẩn tiềm tàng, biểu hiện ra do lạnh…

Theo Y học cổ truyền |YHCT|:

  • Do tà khí Phong Hàn xâm phạm vào 3 kinh Dương ở mặt (Thủ dương minh Đại trường, Túc dương, minh Vị, và Túc thái dương Bàng quang) làm cho sự lưu thông của kinh khí bị bế tắc, khí huyết không thông, kinh Cân bị thiếu dinh dưỡng, không co lại được gây ra bệnh;
  • Do sang chấn (chấn thương) làm huyết bị ứ trở kinh lạc, khí huyết không điều hòa, kinh cân thiếu dinh dưỡng không co lại được gây ra bệnh.

2. Hậu quả

  • Một số trường họp để lại di chứng về vận động thẩm mỹ nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm.

1. Điều trị
Điều trị không dùng thuốc VLTL – PHCN

  • Xoa bóp bấm huyệt trị liệu:
    + Người bệnh nằm ngửa, đầu kê trên gối mỏng;
    + Thầy thuốc đứng ở phía đầu người bệnh;
    + Vuốt từ dưới cằm lên thái dương và từ trán hướng xuống tai;
    + Gõ nhẹ nhanh vùng trán và quanh mắt với các đầu ngón tay;
    + Xoa với các ngón tay khép kín, xoa thành những vòng nhỏ.
  • Châm cứu:Có thể nói phần lớn những trường hợp liệt mặt ngoại biên chỉ cần áp dụng phương pháp trị liệu bằng châm cứu, xoa bóp và tập luyện cơ đã đạt kết quả cao.
    Phác đồ huyệt gồm:
    + Toản trúc, ấn đường, thái dương, dương bạch, nghinh hương, giáp xa, hạ quan, địa thương. Đây là những huyệt tại chỗ trên mặt (thay đổi theo ngày);
    + ế phong, phong trì: khu phong.
    + Hợp cốc bên đối diện.
    Kỹ thuật:
    + Phần lớn là ôn châm (vì đa số trường hợp liệt mặt là do lạnh). Ôn châm cũng đồng thời được chỉ định trong trường hợp huyết ứ (do sang chấn). Nếu thuộc thể phong nhiệt phạm lạc mạch thì kỹ thuật sử dụng là châm tả.
    + Tránh sử dụng điện châm do nguy cơ gây co thắt phối hợp ở mặt và co cứng mặt về sau. Nếu sử dụng điện trị liệu, chỉ dùng dòng điện Galvanic ngắt đoạn.
  • Tập luyện cơ:người bệnh cố gắng thực hiện các động tác
    + Nhắm hai mắt lại;
    + Mỉm cười;
    + Huýt sáo và thổi;
    + Ngậm chặt miệng;
    + Cười thấy răng và nhếch môi trên;
    + Nhăn trán và nhíu mày;
    + Hỉnh 2 cánh mũi;
    +Phát âm những âm dùng môi như b, p, u, i …

Điều trị thuốc Y học cổ truyền |YHCT|:

Thể phong nhiệt phạm kinh lạc 
Pháp trị:

  • Khu phong, thanh nhiệt, hoạt huyết (khi có sốt);
  • Khu phong, bổ huyết, hoạt lạc (khi hết sốt);
  • Thuốc: Kim ngân hoa, Bồ công anh, ké đầu ngựa, Xuyên khung, Đan sâm, Trần bì, Đương quy, Xích thược…

Thể huyết ứ kinh lạc 

  • Pháp trị: hoạt huyết, hành khí.
  • Bài thuốc: Tứ vật đào hồng gia giảm

Thể phong hàn phạm kinh lạc 

  • Pháp trị: khu phong, tán hàn, hoạt lạc; hoạt huyết, hành khí
  • Bài thuốc: Đại tần giao thang gia giảm

Điều trị thuốc Y học hiện đại |YHHĐ|:

  • Điều trị theo nguyên nhân: chống viêm, kháng sinh khi có nhiễm khuẩn, kháng virus…
  • Thuốc giãn mạch
  • Kích thích tăng dẫn truyền, dùng vitamin nhóm B liều cao

2. Phòng bệnh

  • Phòng bệnh liệt mặt, khi rét tránh mở cửa đột ngột để gió lạnh tạt vào mặt. Vào mùa nóng khi ngủ không nên để quạt, máy điều hòa thổi thẳng vào mặt. Đối với những người làm việc và học tập ban đêm, không nên ngồi gần cửa sổ để tránh gió lùa. Người già ban đêm không nên ra ngoài. Ngoài ra, cần điều trị sớm và triệt để các nhiễm khuẩn tai, mũi, họng…
  • Khi có các triệu chứng như trên cần đến ngay bác sĩ chuyên khoa thần kinh để được chẩn đoán chính xác, tránh một số loại bệnh nguy hiểm khác cũng gây liệt mặt nghiêm trọng như: u não, tai biến mạch máu não, chấn thương sọ não…
Thích và chia sẻ bài viết trên mạng xã hội
HOTLINE: 0912.69.11.88 - 043.77.11.777
Facebook